Page Redirection If you are not redirected automatically, follow the link to our homepage.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa Danh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa Danh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2016

Thác Khuổi Nhi - Mái Tóc Nàng Tiên Giữa Đại Ngàn

Khuổi Nhi. Dòng thác quanh năm sủi trắng bọt đẹp như tiên cảnh xoải dài như mái tóc nàng tiên giữa đại ngàn.

Bắt đầu từ Lòng Hồ Thủy Điện - Na Hang, Đi dọc theo sông gâm quý khách sẽ được chiêm ngưỡng những cảnh đẹp của núi rừng với các địa danh. Đền Pác, vách đá Nàng Tiên Chú Khách, Đền Pác Vãng…vv
Thuyền rẽ sóng đưa chúng tôi đến với Khuổi Nhi
Để lên tới Thác Khuổi Nhi, thuyền chúng tôi di chuyển mất hơn 2 tiếng đồng hồ.

Vào đến gần thác không khi trở nên mát mẻ hơn. Cũng vì vậy mà xua tan mọi mệt mỏi và ưu phiền của cuộc sống…vv

 Dưới đây là bộ ảnh về Khuổi Nhi mời mọi người cùng chiêm ngưỡng: 


Hít thở không khí trong lành & tận hưởng không gian nơi đây


Gà đồi và thịt lợn đen được nướng lên mà thơm nứng mũi







Cá mát xa chân, dịch vụ hoàn toàn miễn phí 

Tầng thác đầu tiên
Khách du lịch của Tỉnh Tuyên Quang
Mọi người trò chuyện & cùng nhau làm món ăn trưa






Dọc Lòng Hồ Thủy Điện
Đoàn Thanh Niên Tổ 17 & Những Người Bạn
Các thiếu nữ đến từ Huyện Lâm Bình
Cá Nướng được tẩm ướp ngay tại thác
Trải nghiệm một ngày với Khuổi Nhi, Chắc chắn bạn sẽ cảm thấy những mệt mỏi và ưu phiền sẽ tan biến.

Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2016

Cọc Vài và sự tích Tài Ngào

Cọc Vài – dịch theo tiếng Tày nghãi là “ Cọc buộc trâu” gắn liền với sự tích Tài Ngào mà mỗi người dân Na Hang chúng ta đều nhớ.


Truyện kể rằng: Tài Ngào là một chàng trai khổng lồ, chăm chỉ, chịu khó. Năm đó hạn hạn kéo dài, chàng nghĩ mãi rồi mới quyết định đắp đập ngăn sông cho nước dâng lên để lấy nước giúp dân làng . ngày ngày chàng ra sức đồn đập ngăn sòng cho nước dâng lên để lấy nước từ tận chân núi Pắc Tạ ngược lên vùng Đức Xuân, Thúy Loa để chuẩn bị lấp tận chỗ núi đổ bởi tại nơi này lòng sông hẹp mà hai bên lại có núi cao sừng sững. công việc đang đến lúc gần xong thì có một kẻ xấu trong bản muốn cản trở công việc của chàng ben nhằm lúc chàng đang mải dồn đá, hắn bèn đến và nói dối rằng mẹ chàng ở nhà ốm nặng và đã qua đời. Tài Ngào tưởng thật vội làm chiếc quan tài bằng đã vác về để chôn cất mẹ. Về đến nhà, thấy mẹ đang ngủ say. Tài ngào tưởng mẹ đã chết liên lấy tay vuốt mắt mẹ. nào ngờ bàn tay khổng lồ của chàng đã làm móp thái dương mẹ khiến mẹ tắt thở. Thương mẹ, tài ngào kêu gào thẳm thiết, nước mắt của chàng chảy thành sông làm cuốn trôi chiếc quan tài đá và thi hài người mẹ. thi hài người mẹ trôi mất không tìm thấy còn chiếc quan tài thì vướng lại chỗ tài ngào đang dắp đập dở, nằm bên bờ sông gâm. Bãi đá đắp đập dở tạo thành ủn trên dòng sông. Vào mùa cạn thuyền qua lại phải khiêng qua vì ở đó có rất nhiều đá . Cọc Vài là cọc buộc trâu của tài ngào khi chàng cáo đá để dắp đập

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2016

Chùa Phúc Lâm - Thượng Lâm

Chùa Phúc Lâm ở thôn Nà Tông – Thượng Lâm. Ngôi chùa được tọa lạc trên một khu đất cao, rộng, thoáng đãng và bằng phẳng. Chùa Phúc Lâm được nằm trên gò đất rộng khoảng 600m2 dưới chân núi Chùa. 
Diện mạo Chùa Phúc Lâm hiện nay

Là một ngôi chùa cổ được xây dựng từ thời nhà Trần, vào khoảng thế kỷ XIII - XIV. Mặc dù là một ngôi chùa nhỏ, nhưng chùa Phúc Lâm là một minh chứng rõ ràng nhất về hoạt động tôn giáo - tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc vùng cao.

Chùa Phúc Lâm toạ lạc trên một khu bằng phẳng, dưới chân ngọn núi Cô Tiên cao sừng sững. Xung quanh ngôi chùa là các dãy núi đá vôi hùng vĩ của vùng đất Thượng Lâm huyền thoại. Cũng giống như các di tích lịch sử khác, chùa Phúc Lâm cũng chịu tác động mạnh mẽ của thời gian, Tại khuôn viên cũ của ngôi chùa xưa các nhà nghiên cứu đã phát hiện nhiều dấu tích, hiện vật như: mảnh tháp đất nung, các mảng phù điêu, các tảng đá xanh kê chân cột... Mặc dù hiện nay vẫn chưa có một tư liệu thành văn nào ghi chép về sự ra đời của chùa Phúc Lâm, nhưng qua các dấu tích khai quật được, các nhà nghiên cứu khẳng định, chùa Phúc Lâm mang phong cách kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc từ thời Trần (thế kỷ XIII - XIV), điều này chứng tỏ lịch sử khai phá lâu đời và sinh hoạt tôn giáo phong phú của đồng bào các dân tộc nơi đây. Việc phát hiện những dấu tích của chùa Phúc Lâm là một đóng góp quan trọng trong quá trình nghiên cứu lịch sử, kiến trúc và mỹ thuật tôn giáo thời Trần ở vùng cao Lâm Bình.
Phia trong ngôi chùa

Với ý nghĩa quan trọng về lịch sử, văn hoá, khoa học và nghệ thuật, ngày 29/09/2009, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có quyết định công nhận Chùa Phúc Lâm xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang là di tích cấp quốc gia..
Những yếu tố tâm linh gắn với các truyền thuyết về lịch sử đã làm nên sự linh thiêng, cổ kính của chùa Phúc Lâm. Điều này cũng đang đặt ra vấn đề bức thiết là phải phục dựng lại ngôi chùa xứng tầm với lịch sử và tín ngưỡng văn hoá của nhân dân quanh vùng. Được sự quan tâm của các cấp, các ngành, ngày 22/8/2011 UBND tỉnh Tuyên Quang đã phê duyệt chủ trương đầu tư phục dựng lại ngôi chùa, đây là một tin mừng cho chính quyền và nhân dân huyện Lâm Bình. Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, đến nay ngôi chùa đã được phục dựng lại theo đúng với chủ trương của Đảng và Nhà nước. Chùa được dựng bằng gỗ, theo hướng Tây Nam, nằm ngay trên khuôn viên của ngôi chùa cũ, kiến trúc hình chữ Nhất theo phong cách kiến trúc cổ Việt Nam, gồm một gian hai chái, mái lợp gạch nung. Hai gian Tiền đường của chùa là hai pho tượng Hộ pháp đặt ở vị trí sát vách có nhiệm vụ cai quản một khu vực vùng núi rộng lớn, thuộc Nà Hang và Chiêm Hóa xưa. Giữa Tiền đường là nơi đặt hương án, phía sau là tòa Tam bảo, bao gồm các tượng Phật Tổ Như Lai, Quan Thế Âm, tượng các Bà Chúa Sơn Lâm, Sơn Trang... Hầu hết các tượng được làm bằng gỗ, để mộc ở tư thế ngồi thiền, không sơn son thếp vàng, không được chạm khắc trau chuốt, đường nét không mềm mại nhưng rất có hồn, dáng vẻ tự nhiên.

Hàng năm, cứ vào dịp lễ tết (nhất là dịp lễ hội Lồng Tông vào ngày 15 tháng giêng), nhân dân và du khách gần xa đến với Lâm Bình đều hướng tới ngôi chùa Phúc Lâm để tham quan, cầu an, cầu lộc, cầu cho mùa màng bội thu. Đây sẽ là một điểm đến thu hút người dân và du khách thập phương mỗi dịp tết đến xuân về

Đến Thượng Lâm du khách còn rất ấn tượng với những nếp nhà sàn vương làn khói trắng, thanh bình thấp thoáng ven những triền núi. Thật ấm cúng khi du khách cùng ăn những bữa cơm thân mật với gia chủ. Trên sàn nhà bên bếp lửa hồng cùng nhau nâng bát rượu ngô và thưởng thức các món ăn truyền thống do các bà, các mế, các thiếu nữ nấu. Những món ăn như măng rừng luộc chấm mẻ, rượu ngô, cá ướp mẻ nướng, rau dớn xào, canh đắng... mang dư vị của núi, của rừng đủ làm du khách say lòng với đất và người Thượng Lâm. 

Tổng Hợp

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2016

Di tích Xưởng Quân khí H52 - Na Hang - Tuyên Quang

Xung quanh khu vực hồ Na Hang còn có rất nhiều cảnh đẹp thiên nhiên kì thú khác như ghềnh thác, những vỉa đá tự nhiên hình thù kì lạ, cùng những ngọn thác nổi tiếng như Khuổi Sung, Khuổi Nhi, thác Mơ quanh năm tuôn chảy tung bọt như làn tóc mây trắng tô điểm cho màu xanh của đại ngàn. 
Di tích Xưởng Quân khí H52 là một điểm đến mới lạ đối với những ai muốn được khám phám.
Di tích Xưởng Quân khí H52 (xã Thượng Lâm) và địa điểm sản xuất diêm tiêu (xã Năng Khả) là 2 cơ sở trọng yếu khai thác và sản xuất diêm tiêu phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp giai đoạn từ năm 1950 đến 1954.
Di tích Xưởng Quân khí H52 (Thượng Lâm) và địa điểm sản xuất diêm tiêu (Năng Khả) là 2 cơ sở trọng yếu khai thác và sản xuất diêm tiêu phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp giai đoạn từ năm 1950 đến 1954, nơi có vị trí bảo đảm bí mật, an toàn, là nơi có nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất diêm tiêu thô và than củi (hai nguyên liệu chính để sản xuất thuốc súng). Xưởng Quân khí H52 do đồng chí Ngô Gia Khảm làm giám đốc, chuyên sản xuất diêm tiêu làm thuốc súng (còn gọi là thuốc đen) đã đáp ứng một phần chế tạo vũ khí như lựu đạn, mìn, thuốc phóng, dây cháy chậm, pháo hiệu phục vụ chiến trường.

Di tích Xưởng Quân khí H52

Hang Phia Muồn

Hang Phia Muồn là hang ở núi Phia Muồn, gần bản Nà Lạ, xã Sơn Phú, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
Hang Phia Muồn đã được người dân biết đến từ lâu. Ông Phùng Dừn Phụng (67 tuổi), dân tộc Dao ở thôn Nà Lạ cho biết: “Khi còn nhỏ, tôi đã được cha mẹ kể về hang Phia Muồn. Đó là nơi thần linh ngự trị phù hộ cho bản làng tốt tươi được mùa, nên vào dịp lễ tết, người bản đều thắp hương ở cửa hang”
Cận cảnh di cốt người tiền sử.
Năm 2005, anh La Văn Chiến, giáo viên Trường Tiểu học Sơn Phú vào rừng và nhặt được chiếc rìu đá thời tiền sử. Sự huyền bí và linh thiêng của hang được gợi lại.

Đến năm 2007 Bảo tàng Tuyên Quang và Viện Khảo cổ học Việt Nam tiến hành khai quật khu vực lòng hang

Di tích hang Phia Muồn (Sơn Phú) nằm trong khu vực phổ biến là những núi đá phiến sét vôi xen kẽ những núi đất, những dải thung lũng hẹp và những thảm rừng nguyên sinh còn khá nguyên vẹn. Phia Muồn là một di chỉ cư trú và là khu mộ táng của cư dân thuộc nhiều giai đoạn tiền sử khác nhau. Địa tầng và di vật khảo cổ học kèm theo cho thấy có 2 mức văn hóa thuộc 2 giai đoạn phát triển hậu kỳ đá mới: Mức sớm chứa những công cụ tiêu biểu kỹ nghệ truyền thống Hòa Bình như rìu ngắn, công cụ hình đĩa, công cụ bầu dục vv... Sự có mặt của nhiều mảnh tước chứng tỏ người nguyên thủy Phia Muồn đã chế tác công cụ ngay tại di chỉ. Lớp văn hóa sớm thuộc giai đoạn sớm của hậu kỳ đá mới, có niên đại khoảng từ 4.300 - 4.000 năm cách ngày nay. Lớp văn hóa muộn thuộc giai đoạn hậu kỳ đá mới - sơ kỳ kim khí có niên đại từ 4.000 - 3.500 năm cách ngày nay. Hai lớp văn hóa sớm và muộn nằm chồng trực tiếp lên nhau, phát triển liên tục, không có lớp giãn cách. Táng tục và đồ tùy táng cho thấy, toàn bộ 12 ngôi mộ thuộc hậu kỳ đá mới - sơ kỳ kim khí là tục chôn người thân ngay trong di chỉ, với một số loại táng thức mới: bên cạnh táng thức truyền thống trước đó, kiểu chôn người chết nằm co, bó gối là táng thức nằm ngửa, duỗi tay chân và kè đá xung quanh. Những tài liệu ở Phia Muồn đã cung cấp thêm về một loại táng thức cổ mới phát hiện ở Tuyên Quang, đó là tục chôn kè đá vây xung quanh huyệt mộ và rải đá lên thân thể người chết đã hình thành một loại hình văn hóa Hòa Bình thuộc lưu vực sông Gâm, với những sắc thái riêng, tạo nên diện mạo, bản sắc vùng, phản ánh tính đa dạng trong thống nhất của nền văn hóa Hòa Bình nổi tiếng.

Có thể nói, Phia Muồn là một trong những nơi chứng minh rõ nhất về loài người thời tiền sử, đặc biệt là cách an táng người đã khuất. Những bộ di cốt được an táng theo những cách thức đặc biệt trong lịch sử Việt Nam cũng được các nhà khảo cổ đặc biệt lưu tâm tại hang Phia Muồn.

Tại ngôi mộ thứ nhất, đoàn khảo cổ tìm thấy một bộ di cốt trong tư thế nằm ngửa, phía dưới cổ đặt một nồi gốm to với hoa văn thừng sắc nét và những dấu vết của ám khói. Người chết được rải đá dọc trên thân thể, kèm theo là hàng chục công cụ tuỳ táng được chôn cất cùng hài cốt. Trong khi đó, thông thường một người chết thời kỳ này chỉ được kèm theo 1-2 công cụ tuỳ táng. Theo PGS.TS Trần Năng Chung, điều này chứng tỏ người chết khi còn sống trong cộng đồng đã giữ một vị trí, vai trò quan trọng nào đó.

Tại một ngôi mộ khác, các nhà khảo cổ lại phát hiện những đặc điểm rất đặc biệt. Xung quanh người chết được cắm dọc những phiến đá dài chừng 40cm tạo thành một huyệt mộ hình bầu dục. Hiện tượng này rất hiếm gặp, hầu như mới xuất hiện tại Việt Nam 1 đến 2 lần trong số hàng ngàn cuộc khai quật. Lý giải về việc tất cả các mộ cốt đều có đá rải kèm trên cơ thể, PGS.TS Trình Năng Chung xác định: “Đây vừa là cách đánh dấu huyệt mộ, vừa xuất phát từ quan điểm “vạn vật hữu linh” của tộc người thời đồ đá. Người xưa cho rằng, con người sinh ra từ đá và chết đi lại trở về với đá. Đá chính là nơi trú ngụ của linh hồn”.
http://tuyenquang.gov.vn:2222/Image/image/BQLDLNH/Huu/huu/1_phia_muon.jpg
Các nhà khảo cổ học trong hang Phia Muồn
Cho đến nay, tư thế chôn vẫn được các nhà khảo cổ Việt Nam xem là độc đáo hơn cả. Với tư thế chôn nằm nghiêng, bó gối, co tay tại ngôi mộ số 1 và 12 được nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, đây là cách an táng dựa trên quan điểm người chết sẽ trở về trạng thái ban đầu khi còn trong bào thai và hy vọng kiếp sau người chết sẽ được trở lại sinh sống làm người. 

Cũng có ý kiến cho rằng, tư thế chôn này thể hiện sự mâu thuẫn trong nhân sinh quan và thế giới quan của người tiền sử. Nghĩa là, người chết thường được chôn ngay với nơi ở để được gần gũi với những thành viên khác trong gia đình. Nhưng do những người còn sống lo sợ việc linh hồn người quá cố sẽ quấy rầy cuộc sống của họ, nên khi chôn, người chết thường bị bó chặt chân tay để không thể quấy rầy người còn sống. Hiện nay, nhiều di vật tìm thấy tại Phia Muồn đã được chuyển về Bảo tàng tỉnh và được bảo quản cẩn thận để mọi người dân trong tỉnh, du khách có thể hiểu hơn về những phong tục độc đáo của cha ông thời kỳ trước.

DI TÍCH HANG PHIA VÀI

Di tích hang Phia Vài (Khuôn Hà) là di chỉ khảo cổ điển hình, tìm thấy hàng nghìn công cụ lao động có niên đại cùng thời văn hóa Hòa Bình và bộ di cốt người nguyên thủy bán hóa thạch. 
Những di cốt động vật chủ yếu thuộc tập hợp bán hóa thạch của lớp địa tầng kết vón tầng văn hóa sớm, trong tập hợp di cốt bán hóa thạch có răng người khôn ngoan (Homo sapiens) và đại diện của quần động vật hậu kỳ Cánh tân như đười ươi (Pongo sp). 
Những di cốt này nằm trong lớp trầm tích có độ kết vón rắn chắc cùng với các di tích động thực vật khác như ốc núi, cua đá, hạt trám là những di vật đặc trưng cho giai đoạn văn hóa có niên đại từ 20.000 đến 11.000 năm cách ngày nay. 
Những di cốt động vật bán hóa thạch tìm được ở Phia Vài bổ sung thêm những tư liệu quý để nghiên cứu về cổ môi trường và con người trong giai đoạn chuyển từ Cánh tân sang Toàn tân ở nước ta. Bếp lửa và mộ táng của di chỉ hang Phia Vài đã góp thêm tư liệu quý để tìm hiểu về táng tục, đời sống tinh thần cũng như cấu trúc xã hội của cư dân tiền sử. Bộ di cốt người nguyên thủy chôn nằm co, bó gối với cách khâm liệm độc đáo, táng thức bỏ ốc biển vào hốc mắt người quá cố đã cung cấp cho các nhà nghiên cứu cổ nhân học tìm được những chứng tích quan trọng về quá trình tiến hóa chủng tộc người, cũng là bộ di cốt điển hình, độc đáo ở Đông Nam Á. 
Di tích bếp lửa tìm được ở Phia Vài thuộc lớp văn hóa muộn có niên đại khoảng 8.000 năm cách ngày nay, diện tích bếp không lớn, có thể phục vụ việc sưởi ấm hoặc nướng thức ăn cho một nhóm cộng đồng người theo kiểu huyết thống.
Ảnh Nguồn: Internet
Khi tiến hành khai quật bộ xương người tại Hang Phia Vài, thuộc địa phận thôn Cốc Ngận, xã Xuân Tân, huyện Na Hang, Tuyên Quang, GS Nguyễn Lân Cường đã phát hiện một cách khâm liệm độc đáo: đặt ốc biển vào hốc mắt. Theo giáo sư Nguyễn Lân Cường, cách khâm liệm này lần đầu tiên phát hiện thấy ở Việt Nam và Đông Nam Á.

Tháng 11/2003, trong khi thực hiện “Dự án khảo sát những di tích lịch sử văn hóa thuộc khu vực lòng hồ thủy điện Tuyên Quang”, các cán bộ khoa học đã phát hiện ra một địa điểm khảo cổ học quan trọng – Hang Phia Vài, thuộc địa phận thôn Cốc Ngận, xã Xuân Tân, huyện Nà Hang, cách thị xã Tuyên Quang khoảng 150 km về phía bắc. 
Ảnh Nguồn: Internet
Lần đầu tiên phát hiện một cách khâm liệm độc đáo: Đặt ốc biển vào hốc mắt.

Đầu năm 2005, Viện Khảo cổ học và Bảo tàng Tuyên Quang đã tiến hành khai quật hang này. Đây là một hang đá rất đẹp, có cửa hang nhìn ra dòng suối Cốc Ngận – nơi có nhiều đá cuội mà cư dân tiền sử sống trong hang đã sử dụng để chế tác công cụ. Mặt hang cao hơn mặt suối khoảng 15m, cửa hang nhìn về phía chính tây. 

Theo TS Trình Năng Chung và TS Nguyễn Gia Đối, địa điểm Phia Vài có dạng vừa hang, các hốc đá ở phía bắc và có dạng vừa là mái đá ở phía nam. Cửa hang rộng 35m, sâu 11m và trần hang cao 4m. Tiếc rằng, các tảng đá vôi lớn đã bị sập xuống từ trần hang, làm mất đi một diện tích khá lớn không thể khai quật được. 

Các nhà khảo cổ đã đào 2 hố khai quật với tổng diện tích là 40m2 và đã phát hiện được hàng trăm hiện vật mà chủ yếu là các công cụ ghè, đẽo thô sơ kiểu chopper và các mảnh tước, mảnh tách... Những công cụ này, được làm từ đá cuội với các chất liệu phổ biến như basalt, liolith và quartz. 

Đặc biệt trong cuộc khai quật hang Phia Vài đã phát hiện được 2 di tích mộ táng và một di tích bếp lửa. Căn cứ vào đồ tùy táng, những người khai quật cho rằng: ngôi mộ thứ nhất thuộc thời đại kim khí, cách nay khoảng trên dưới 3.000 năm. Ngôi mộ thứ hai đầu hướng đông bắc, chân hướng tây nam, có công cụ đá chôn theo - thuộc thời đại đá với niên đại cách nay khoảng trên dưới 10.000 năm. 

Thấy rõ tầm quan trọng của phát hiện trên, Giám đốc Bảo tàng Tuyên Quang Quan Văn Dũng đã quyết định để họa sĩ Nguyễn Đình Hiển bó thạch cao ngôi mộ thứ hai và bếp lửa chuyển về Bảo tàng phục vụ cho công tác nghiên cứu và trưng bày. 

Ngày 6/5/2006, chúng tôi đã tiến hành cưa bỏ phần quách thạch cao ở phía trên để lấy mẫu đất nhằm bảo quản lâu dài ngôi mộ. Trong suốt 2 tuần lễ, tôi và các đồng nghiệp ở Bảo tàng Tuyên Quang đã làm lộ dần hình hài bộ xương bán hóa thạch vô giá này. Người chết nằm ngửa, 2 tay duỗi thẳng. Mặc dù xương ống chân hầu như không còn, nhưng dựa vào vị trí của xương sên và xương gót chân trái, nằm sát bên chậu hông mà chúng tôi kết luận rằng, người quá cố được chôn theo tư thế nằm bó gối - một tư thế mai táng quen thuộc của cư dân văn hóa Hòa Bình, Đa Bút, Quỳnh Văn... Xương đai vai, bả vai, xương sườn, một số đốt ngón tay... vẫn còn bảo quản tốt. 

Dựa vào độ mòn của răng, độ gắn liền của đường khớp sọ, cấu tạo của khuyết ngồi lớn, góc của xương cánh chậu, xương hàm dưới,... chúng tôi kết luận rằng đây là di cốt của một người đàn bà, khoảng từ 45 đến 50 tuổi. Vì xương cánh tay trái còn tương đối nguyên vẹn, nên tính được chiều cao của cá thể này là 1,56 m. Đặc biệt hộp sọ gối lên một thềm đá và độ hóa thạch khá cao. Ở hàm trên răng cối nhỏ, cối lớn và răng nanh còn tương đối nguyên vẹn, chỉ thiếu toàn bộ răng cửa. Ở hàm dưới không những thiếu toàn bộ răng cửa, mà còn cả 2 răng nanh, toàn bộ răng cối nhỏ bên trái và răng cối nhỏ thứ nhất bên phải. Phải chăng, người ta đã nhổ đi những chiếc răng cửa như phong tục sau này của cư dân thời đại kim khí thuộc văn hóa Phùng Nguyên ở Mán Bạc, Xóm Rền, Đồng Đậu mà chúng tôi đã phát hiện và công bố.

PGS-TS Nguyễn Lân Cường (trái) và giám đốc Quan Văn Dũng (phải) đang xử lý bộ xương người cổ ở Phia Vài.

Những người khai quật hang Phia Vài đã sàng lọc rất kỹ phần đất khai quật, nên khả năng tất cả răng cửa bị mất khó xảy ra. Nếu đúng như vậy thì tục nhổ răng cửa đã manh nha từ thời đại đồ đá ở Việt Nam, mặc dù táng tục này không phổ biến như người cổ của thời đại đá mới ở Trung Quốc. Giả thiết khoa học này cần tiếp tục nghiên cứu. 

Hộp sọ còn khá nguyên vẹn, nhưng bị nén ép, nên bẹp ở phần xương đỉnh và chẩm bên phải làm cho 2 mỏm chũm và cung gò má bị lệch, không còn đúng với vị trí ban đầu. Khi tôi dùng chiếc kim nhỏ làm lộ dần 2 con ốc nằm gọn trong hốc mắt của người đàn bà này. Đây là loại ốc biển có tên khoa học là Cypraea arabica. Con ốc nằm ngửa trong hốc mắt trái dài: 27,23mm, rộng: 16mm. Con ốc trong hốc mắt phải dài: 21,61mm, rộng: 13,13mm nằm hơi chúi đầu xuống phía dưới. Tôi hơi nheo mắt lại, nhìn vào hốc mắt của người đàn bà Phia Vài, thật lạ, như thấy “bà đang nheo mắt nhìn tôi...”. 

Thời người phụ nữ này còn sống, người ta dùng loại ốc biển này để trao đổi hàng hóa, giống như tiền tệ ngày nay. Trong lúc mai táng, người ta đã đặt lên mỗi mắt một con ốc, để khi phần da thịt tiêu đi, con ốc sẽ tụt xuống hốc mắt như thay cho con ngươi. 

Dựa vào vị trí của xương tay, xương sườn và chậu hông, chúng tôi cho rằng đây là di cốt chôn nguyên dạng, không phải là bộ xương đã được cải táng. Nhìn lại những sọ cổ thuộc nền văn hóa Hòa Bình mà tôi đã nghiên cứu như Mái đá Điều, Mái đá Nước (Thanh Hóa), Động Can, Hang Chim, Hang Muối (Hòa Bình) và Mái đá Ngườm (Thái Nguyên), chưa bao giờ tôi gặp trường hợp này. Những sọ cổ có niên đại tương tự phát hiện được ở Đông Nam Á cũng không thấy cách khâm liệm đặt ốc vào hốc mắt. 

Để cho chắc chắn, tôi gọi điện thoại về Hà Nội cho TS Ngô Thế Phong – nhà khảo cổ học lỗi lạc về Đông Nam Á, rất mừng khi anh có cùng nhận định với tôi.

Hình thức mai táng này được lặp lại ở thời đại kim khí, khi tôi nghiên cứu một chiếc sọ cổ của một người đàn ông khoảng 50 đến 55 tuổi tìm thấy ở Nga Văn, huyện Nga Sơn (Thanh Hóa) vào tháng 4/2000. Chỉ khác là, sọ và một đoạn xương cánh tay, 1 cán giáo đồng được cải táng trong một chiếc trống đồng cổ loại một. Người cổ Nga Sơn cũng đặt vào 2 hốc mắt, nhưng không phải là ốc mà là 2 đồng tiền Ngũ Thù. 

Tổng Hợp

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2016

Đền Pác Tạ

Diện mạo đền Pác Tạ ngày nay

Trong tiếng Tày, ngọn núi "Pác Tạ" mang hàm nghĩa một bầu vú của trời. Đó là ngọn núi cao nhất vùng cao Na Hang, đền Pác Tạ nằm trên ngọn núi cao nhất ấy.

Di tích đền Pác Tạ (thị trấn Nà Hang) là một trong những dấu tích còn lại minh chứng cho cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai năm 1285: vị tướng tài giỏi Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật lúc đó đương trấn thủ vùng đất Tuyên Quang đã khôn khéo chỉ huy quân chống giặc từ Vân Nam xuống. Theo những tư liệu lịch sử cho thấy, ngôi đền Pác Tạ được dựng lên bên Gâm giang dưới ngọn Tạ sơn để phụng thờ và ngưỡng vọng vị hôn phu (người vợ sắp cưới) của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật.

Hình ảnh về vị hôn phu của Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đã được người dân nơi đây khoác lên tấm áo truyền thuyết ly kỳ lưu truyền từ đời này qua đời khác. Tương truyền, vào đời nhà Trần có người thiếp của tướng quân Trần Nhật Duật theo chồng đi kinh lý bằng thuyền ở vùng sông Gâm và sông Năng. Trên đường về xuôi, đến ngã ba sông này thì chiếc thuyền chở người thiếp ấy gặp nạn. Ngã ba sông nước dữ, quân lính lặn lội mấy ngày đêm vẫn không tìm thấy xác.

Tướng Trần Nhật Duật ban bố lệnh cho các dòng họ trên miền đất cổ Na Hang, hễ dòng họ nào tìm được xác người thiếp kia thì được ban ruộng nương, châu báu, được lập đền, trông coi và thờ phụng. Rất nhiều dòng họ ở vùng Na Hang và cả vùng Chiêm Hóa kéo nhau đi tìm để lập công. Cuối cùng chỉ có người họ Ma tìm được. Đền Pác Tạ được xây dựng nên từ đó.
Khởi nguyên, đền Pác Tạ nằm trên một doi đất bên hữu ngạn sông Năng.

Năm 1959, đền bị cháy, những đồ vật bằng gỗ cháy theo, những vật bằng kim loại và gốm sứ bị thất lạc. Sau đó nhân dân đã dựng một am nhỏ bằng tre, nứa để thờ. Tại nhà ông lược còn 3 bát nhang của đền. Bát sứ men trắng, hoa văn rồng. Căn cứ vào kiểu dáng, chất liệu họa tiết, thì những bát này có niên đại thế kỷ XIX.
Đền Pác Tạ là một kiến trúc cổ hiếm tìm thấy ở vùng cao, là tài liệu quý cho nghiên cứu sử học, dân tộc học

Tháng 9 năm 2008 đền Pác Tạ được khởi công xây dựng lại đến tháng 9 năm 2009 đã khánh thành và được Bộ văn hóa thể thao và du lịch xếp hạng Di tích Quốc gia theo quyết định số 3346/QĐ-BVHTTDL ngày 29/9/2009.

Lễ hội đền Pác Tạ nhằm ngày hoàng đạo tháng 3 và tháng 7. Năm nhuận mổ châu, năm thường mổ lợn. Mâm cỗ sống bầy đầu châu hoặc thủ lợn đặt lên Ban thờ chính, bên ngoài đặt mâm cố chính. Hàng tháng vào ngày rằm, mùng một đều có thắp hương. 

Ngày nay đền Pác Tạ đã trở thành một biểu tượng thiêng liêng và cũng là niềm tự hào của Huyện Na Hang. Nhắc tới Na Hang chắc hẳn không ai không biết tới đền "Pác Tạ".

THÁC MƠ NA HANG

THÁC MƠ NA HANG – TUYÊN QUANG VẺ ĐẸP HÙNG VĨ CỦA MIỀN SƠN CƯỚC

Thác Mơ nằm giữa khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang cách thị xã Tuyên Quang 120 km. Lối vào thác mơ là con đường rải nhựa ngoằn ngoèo bên cạnh thủy điện lòng hồ chạy dưới tán rừng nguyên sinh. Vào thác, du khách như ngỡ mình đang lạc giữa chốn bồng lai, tiên giới. 


Truyền thuyết kể rằng thác Mơ là câu chuyện đầy cảm động về vợ chồng nàng Mơ sinh sống dưới chân núi Pắc Ban. Chuyện kể rằng, xưa kia, dưới chân núi Pắc Ban là ngôi nhà ấm cúng của vợ chồng nàng Mơ, sống bằng nghề hái thuốc. Nàng Mơ nhan sắc nhất vùng, da nàng trắng như hoa ban, mắt nàng trong như nước hồ, môi nàng hồng tươi như bông hoa gạo. Một hôm người chồng lên đỉnh núi hái thuốc và chàng đã không trở về. Nàng Mơ ở nhà nhớ thương chồng da diết, nàng quyết chí lên đỉnh Pắc Ban tìm chồng. Nàng mải miết đi nhưng lạ thay cứ gần đến đỉnh núi thì trời bỗng tối sầm, nàng lại phải nghỉ chân, sáng dậy thì đỉnh núi lại cao chót vót. Một ngày kia khi màu đen của màn đêm đã trùm khắp đỉnh núi, nhưng nàng vẫn đi và đêm đen đã làm nàng ngã xuống triền núi và biến thành dòng thác.

Nhìn từ dưới lên, thác nước như một chiếc thang mây bồng bềnh bắc lên tận cổng trời. Thác thứ nhất nước đổ dữ dội, các con nước nối đuôi nhau quật vào những khối đá chắn ngang dòng tung bọt trắng xóa.

Lần theo từng nút thang dây vịn vào đá, du khách sẽ đến được đỉnh của “mái tóc” khổng lồ. Từ đỉnh thác, thị trấn Nà Hang với 99 ngọn núi trùng điệp bao quanh như được thu vào tầm mắt.

Không gian thoáng đãng, bên tai nước gẩy khúc nhạc rì rào khiến mọi lo toan trong lòng bạn cũng như vất vả đời thường được trút bỏ. Từ đây du khách có thể tản ra những cánh rừng nguyên sinh, bước trên chiếc thảm lá khổng lồ, ngắm nhìn những cây sến, táu, lát, to đến vài người ôm trong tiếng chim ca, vượn hót.



Động Song Long (Khuôn Hà)

Thắng cảnh động Song Long (Khuôn Hà) là một hang động đẹp và và có quy mô khá lớn trong vùng, Đây là hang động đẹp, có quy mô khá lớn. Động Song Long cách mặt nước hồ thủy điện trên 200 m, lòng hang có chiều cao khoảng 40 m, rộng khoảng 50 m, sâu trên 200 m, lòng hang có chiều cao khoảng 40m, rộng khoảng 50m, sâu trên 200m, nhiều cột thạch nhũ với các hình thù kỳ thú, màu sắc lấp lánh như hoa cương, lòng hang được chia thành nhiều ngách ngăn nối tiếp nhau, hấp dẫn khách đến tham quan du lịch.

Mất khoảng 3 giờ đi ca nô trên hồ thủy điện Tuyên Quang là đến được thắng cảnh động Song Long thuộc xã Khuôn Hà., trong hang có nhiều cột thạch nhũ với các hình thù kỳ thú, màu sắc lấp lánh như hoa cương, lòng hang được chia thành nhiều ngách ngăn nối tiếp nhau, hấp dẫn du khách.